Năm 2026 đánh dấu mốc son 42 năm hình thành và phát triển (17/11/1984 – 17/11/2026) của Công ty TNHH MTV Cao su Quảng Trị. Vượt qua những khó khăn về thời tiết và biến động thị trường, doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG) không chỉ ghi nhận kết quả kinh doanh bứt phá mà còn đang mạnh mẽ chuyển mình: từ doanh nghiệp cao su truyền thống sang mô hình nông nghiệp công nghệ cao, phát triển hạ tầng cụm công nghiệp và vươn tầm sang Lào.
Để tìm hiểu rõ hơn về hành trình 42 năm đúc kết kinh nghiệm cùng những bước đi chiến lược trong giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn 2045, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Đại Dương — Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH MTV Cao su Quảng Trị.
Tinh gọn bộ máy, tối ưu hóa nguồn lực quản lý
Phóng viên: Xin ông khái quát về quy mô quản lý cũng như bộ máy tổ chức của công ty sau quá trình tái cơ cấu?
Ông Nguyễn Đại Dương: Công ty TNHH MTV Cao su Quảng Trị là đơn vị tiền thân của Công ty Cao su Bình Thiên, được thành lập ngày 17/11/1984. Đến nay, sau 42 năm hoạt động, công ty đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, kinh doanh nông nghiệp cao su và là đơn vị trực thuộc Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam.
Hiện nay công ty đang quản lý tổng diện tích khoảng 4.203 ha, trong đó riêng diện tích cao su là 3.407 ha. Đối với diện tích cao su, công ty có khoảng 1.932 ha đang trong giai đoạn khai thác, 147 ha cao su kiến thiết cơ bản và khoảng 743 ha vườn cây nguyên liệu được phát triển từ năm 2017. Vốn điều lệ của công ty hiện đạt khoảng 433 tỷ đồng với tổng số 417 lao động, trong đó có 20 lao động là người đồng bào dân tộc thiểu số.
Thực hiện chủ trương của Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam về sắp xếp lại mô hình sản xuất, công ty đã xóa bỏ cấp trung gian là cấp nông trường và tổ chức lại theo mô hình các phòng, ban và đơn vị sản xuất. Hiện nay, công ty gồm 4 phòng ban chuyên môn và 5 đội sản xuất được hình thành trên cơ sở các nông trường trước đây. Công ty có một nhà máy chế biến đóng trên địa bàn 5 xã thuộc tỉnh Quảng Trị và một công ty con là Công ty TNHH MTV Cao su Kava hoạt động tại Lào.

Phóng viên: Bất chấp những khó khăn về thời tiết trong giai đoạn đầu năm, kết quả sản xuất kinh doanh của công ty trong năm nay đạt được như thế nào, thưa ông?
Ông Nguyễn Đại Dương: Mặc dù thời tiết đầu năm có nhiều khó khăn, đặc biệt là tình trạng nắng hạn, nhưng công ty đã nỗ lực triển khai nhiều giải pháp và đạt kết quả khá tốt. Về sản lượng khai thác, công ty đạt khoảng 1.631 tấn, tương đương 63% kế hoạch được giao và hiện đứng thứ ba trong toàn Tập đoàn về kết quả thực hiện sản lượng.
So với năm 2025, kết quả sản xuất kinh doanh năm nay tăng trưởng khá mạnh. Năm ngoái tổng doanh thu đạt khoảng 255 tỷ đồng, còn năm nay công ty đặt mục tiêu 350 tỷ đồng. Tính đến tháng 9 năm 2026, doanh thu đã đạt khoảng 325 tỷ đồng, cơ bản hoàn thành phần lớn kế hoạch. Về lợi nhuận, với kế hoạch được giao là 24,8 tỷ đồng, đến thời điểm hiện tại công ty đã đạt khoảng 28,1 tỷ đồng, tương đương 113% kế hoạch và phấn đấu cả năm có thể đạt trên 40 tỷ đồng. Giá bán sản phẩm của công ty cũng thuộc nhóm cao trong Tập đoàn, bình quân đạt khoảng 56 triệu đồng mỗi tấn.
Bên cạnh mảng cao su, công ty hiện quản lý khoảng 343 ha rừng trồng keo tràm. Vừa qua, công ty đưa ra đấu giá 150 ha rừng với giá khởi điểm khoảng 9 tỷ đồng và kết quả thu về đạt khoảng 12 tỷ đồng, tăng 3 tỷ đồng so với giá khởi điểm. Việc khai thác và tiêu thụ gỗ rừng trồng thông qua đấu giá đang mang lại nguồn thu tương đối ổn định cho công ty.

Chủ động công nghệ và chuẩn hóa tiêu chuẩn chế biến
Phóng viên: Hoạt động của nhà máy chế biến và việc kiểm soát chất lượng sản phẩm hiện nay đang được công ty triển khai ra sao?
Ông Nguyễn Đại Dương: Năm 2025, nhà máy chế biến đạt sản lượng khoảng 5.830 tấn. Năm nay, kế hoạch chế biến được giao là 9.000 tấn và đến nay đã đạt khoảng 4.369 tấn. Sự chênh lệch giữa sản lượng khai thác và sản lượng chế biến là do nhà máy đẩy mạnh hoạt động gia công cho các đơn vị trong Tập đoàn, bao gồm cả nguồn nguyên liệu từ Nghệ An và Thanh Hóa đưa vào.
Hiện nhà máy có hai dây chuyền sản xuất chính. Dây chuyền SVR3L chiếm khoảng 68% công suất, sử dụng nguồn nguyên liệu do công ty tự sản xuất và cung cấp chủ yếu cho khách hàng tại Quảng Ngãi. Dây chuyền SVR10 chiếm khoảng 40% công suất, thu mua nguyên liệu từ các hộ tiểu điền và phục vụ khách hàng tại Đà Nẵng. Việc sản xuất được tổ chức linh hoạt dựa trên yêu cầu kỹ thuật cụ thể của từng đối tác truyền thống.
Đối với các tiêu chuẩn mới như EUDR, FSC hay ISO 14067, công ty xác định đây là xu hướng bắt buộc. Tháng 8 vừa qua, Tập đoàn đã phê duyệt phương án cho công ty. Chúng tôi đang hoàn thiện hồ sơ để triển khai đấu thầu, dự kiến đến cuối năm nay sẽ hoàn thành các thủ tục liên quan đến phòng cháy chữa cháy, EUDR và các chứng nhận phát triển xanh theo định hướng của Tập đoàn.
Phóng viên: Để duy trì sản lượng và sự ổn định, công ty có những giải pháp gì trong công tác quản lý sản phẩm cũng như chăm lo cho người lao động?
Ông Nguyễn Đại Dương: Khi giá mủ cao su tăng cao, công ty đã tăng cường công tác chống thất thoát sản phẩm. Từ tháng 6 năm 2026, công ty phối hợp với lực lượng công an xã tổ chức tuần tra, kiểm soát. Đến nay, lực lượng chức năng đã xử lý 9 trường hợp, thu hồi hơn 1 tấn sản phẩm thất thoát và chuyển cho cơ quan công an xử lý. Giải pháp này đã giúp tình trạng thất thoát giảm rõ rệt.
Về chính sách lao động, thu nhập bình quân năm 2025 đạt khoảng 10 triệu đồng mỗi người một tháng và công ty tiếp tục duy trì mức này trong năm nay. Các chế độ bảo hiểm, bảo hộ lao động được thực hiện đầy đủ. Để giải quyết tình trạng thiếu hụt lao động trẻ và giữ chân lao động có kinh nghiệm, công ty đang áp dụng linh hoạt hình thức lương cố định kết hợp lương sản phẩm, đồng thời khuyến khích mô hình lao động gia đình cùng tham gia khai thác.

Định hướng chiến lược 2026–2030: Đa ngành, công nghiệp và mở rộng đầu tư
Phóng viên: Xin ông chia sẻ về định hướng phát triển của công ty trong giai đoạn 2026–2030 và tầm nhìn dài hạn?
Ông Nguyễn Đại Dương: Trong thời gian tới, công ty từng bước chuyển đổi từ doanh nghiệp cao su truyền thống sang doanh nghiệp nông nghiệp đa ngành, ứng dụng công nghệ cao. Công ty dự kiến chuyển khoảng 320 ha cao su sang nông nghiệp công nghệ cao, trong đó triển khai thí điểm 5,32 ha trồng dứa MD2, giai đoạn 2026–2030 chuyển đổi 190 ha và sau năm 2030 chuyển tiếp 130 ha.
Về phát triển cụm công nghiệp, công ty dự kiến dành khoảng 150 ha, bao gồm 75 ha tại xã Việt Quang đã đưa vào quy hoạch tỉnh và 75 ha tại xã Phổ Tiến đang đề xuất bổ sung. Đối với dự án tại Lào thông qua Công ty Cao su Kava, công ty được giao nghiên cứu 8.500 ha và đã xác định quỹ đất thực tế khoảng 7.350 ha tại tỉnh Salavan, gồm 4.000 ha cao su, 2.000 ha keo và 1.000 ha cà phê. Công ty dự kiến hoàn thành các thủ tục để được cấp giấy phép đầu tư dự án này trong tháng 11. Ngoài ra, công ty tiếp tục duy trì hiệu quả nguồn vốn góp khoảng 283 tỷ đồng tại các đơn vị liên kết để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
Phóng viên: Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi này.









