Tại Diễn đàn tài chính 2026: “Khơi thông dòng vốn, kết nối đa kênh” do Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức chiều ngày 20/5, các chuyên gia cho rằng, huy động nguồn lực tài chính đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số của Việt Nam trong giai đoạn 2026-2030 là một thách thức vĩ mô lớn, đặt trong bối cảnh địa chính trị toàn cầu có nhiều biến động phức tạp.

Bước sang năm 2026, nền kinh tế ghi nhận sự phục hồi rõ nét với những điểm sáng trong sản xuất công nghiệp, giải ngân đầu tư công và số lượng doanh nghiệp gia nhập thị trường tăng trưởng ổn định.

Tuy nhiên, cấu trúc vốn đầu tư hiện tại vẫn phản ánh sự phụ thuộc lớn vào ngân sách nhà nước, vốn tự có của doanh nghiệp và đặc biệt là hệ thống tín dụng ngân hàng, trong khi vai trò của thị trường vốn trung và dài hạn chưa được phát huy tương xứng.

Để thúc đẩy chu kỳ bứt tốc kinh tế và vượt qua bẫy thu nhập trung bình, việc xây dựng một bản đồ huy động vốn toàn diện, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thông qua chỉ số ICOR và khơi thông đồng bộ các kênh dẫn vốn đa dạng từ trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu hạ tầng đến trái phiếu xanh là những điều kiện cần thiết đối với cả khu vực công và khối doanh nghiệp tư nhân.

Thách thức cân đối cơ cấu nguồn vốn toàn xã hội và áp lực hạ tầng vĩ mô

Phân tích về bức tranh tổng thể dòng vốn đầu tư, ông Đỗ Thiên Anh Tuấn, Giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, cho biết tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2025 đạt khoảng 4,15 triệu tỉ đồng, tăng 12,1% và chiếm 32,3% GDP, trong đó đầu tư công đóng góp 8,65%, khối FDI chiếm 5,3% và khu vực tư nhân trong nước đảm nhiệm tỷ phần lớn nhất với 17,41% GDP.

Đi sâu vào cấu trúc tài trợ, nguồn chi cho đầu tư công từ ngân sách nhà nước tương đương 6,6% GDP, với thuế và phí chiếm 56%, phần còn lại phải dựa vào phát hành trái phiếu chính phủ khoảng 2,9% GDP. Đối với khu vực tư nhân, dù đóng vai trò chủ lực nhưng tỷ lệ vốn tự có chỉ đạt khoảng 4,8% GDP, buộc các doanh nghiệp phải phụ thuộc nặng nề vào hệ thống tài chính.

Kênh cổ phiếu qua thị trường vốn dù đạt đỉnh vào năm 2025 nhưng mới đóng góp chưa tới 1,2% GDP, trong khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp dù đạt quy mô phát hành gần 630 nghìn tỉ đồng nhưng có đến hơn 90% là phát hành riêng lẻ và tập trung chủ yếu vào các ngành ngân hàng, bất động sản, chứng khoán.

Nếu loại trừ các lĩnh vực này, các doanh nghiệp sản xuất thực chất chỉ huy động được khoảng 1,7% GDP từ trái phiếu, cho thấy quy mô vốn hóa chứng khoán ở mức 108,6% GDP cuối năm 2025 chủ yếu phản ánh giá trị tài sản tài chính lưu hành chứ chưa thể hiện năng lực huy động nguồn vốn mới cho đầu tư phát triển.

Sự thiếu hụt của thị trường vốn khiến tín dụng ngân hàng trở thành kênh dẫn vốn chủ lực với mức dư nợ cuối năm 2025 lên tới 145% GDP, trong đó lượng tín dụng ròng bơm thêm tương đương 23,2% GDP nhưng một phần đáng kể phục vụ cho tiêu dùng cá nhân thay vì tập trung toàn bộ cho sản xuất. Bước sang năm 2026, với mục tiêu tăng trưởng GDP thực 10% và lạm phát kiểm soát ở mức 4,5%, GDP danh nghĩa dự kiến tăng khoảng 14,95%.

Nếu nâng tỷ lệ đầu tư toàn xã hội lên mức 35% GDP để đáp ứng mục tiêu, tổng vốn cần huy động cho năm 2026 sẽ đạt khoảng 5,17 triệu tỉ đồng, tăng tới 24,5% so với năm 2025 và tạo ra áp lực rất lớn lên tổng cầu, lạm phát, lãi suất cũng như tỷ giá. Trong kịch bản tổng thể 5 năm 2026-2030 với định hướng nâng tỷ lệ đầu tư lên 40% GDP nhằm bù đắp hệ số hiệu quả sử dụng vốn ICOR ở mức cao, tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội có thể lên tới gần 40 triệu tỉ đồng.

Để đảm bảo an toàn vĩ mô và tránh hiệu ứng chèn lấn đầu tư tư nhân khi nhà nước tăng vị thế đầu tư công vượt ngưỡng trần 22% tổng đầu tư xã hội, khu vực tư nhân và khối FDI phải gánh vác khoảng 30% GDP vốn đầu tư còn lại, đặt ra bài toán phải tái cấu trúc mạnh mẽ thị trường vốn để bù đắp khoảng cách lớn giữa mục tiêu chiến lược và năng lực tài chính hiện tại.

Giải pháp nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp và đa dạng hóa các kênh tài trợ

Trước áp lực bứt tốc của chu kỳ kinh doanh mới từ quý II năm 2026, nhu cầu bổ sung các nguồn lực tài chính dồi dào và kịp thời cho khối doanh nghiệp trở nên cấp bách nhằm hiện thực hóa các kế hoạch sản xuất.

Ông Trần Ngọc Liêm, Giám đốc VCCI Chi nhánh khu vực TP. Hồ Chí Minh, nhận định rằng dù cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn rất lạc quan vào triển vọng vĩ mô và không gian kinh tế mở rộng, thực tiễn vận hành vẫn đòi hỏi các giải pháp khéo léo để vừa giữ vững ổn định tỷ giá, vừa duy trì mặt bằng lãi suất cho vay hợp lý hỗ trợ sản xuất.

Nhằm khơi thông dòng vốn đa kênh một cách thực chất, các doanh nghiệp cần chủ động chuẩn hóa hệ thống kế toán, minh bạch hóa báo cáo tài chính và cải thiện năng lực quản trị rủi ro để xây dựng niềm tin đối với các định chế tài chính, giúp dòng vốn tự nhiên lưu chuyển về những vùng trũng an toàn và hiệu quả.

Bên cạnh việc giảm bớt sự phụ thuộc vào dòng vốn tín dụng ngân hàng truyền thống, doanh nghiệp phải chủ động tìm hiểu và tiếp cận các kênh dẫn vốn linh hoạt khác như thị trường trái phiếu doanh nghiệp đang phục hồi, các quỹ đầu tư mạo hiểm hoặc nguồn tín dụng xanh quốc tế.

Đối với các dự án hạ tầng quy mô lớn đang triển khai, việc hoàn thiện và sớm ban hành dự thảo Nghị định quy định chào bán trái phiếu ra công chúng của doanh nghiệp dự án PPP sẽ mở ra một kênh huy động vốn dài hạn quan trọng cho các công trình trọng điểm theo mô hình đối tác công tư. Đồng thời, việc đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng nền tảng quản trị số và tuân thủ các tiêu chuẩn ESG sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh tuyệt đối cho doanh nghiệp trong việc thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao và các gói tài chính ưu đãi.

Đồng quan điểm về việc xây dựng các trụ cột vốn bền vững, ông Phùng Xuân Minh, Chủ tịch HĐQT PT Group & Saigon Ratings, nhấn mạnh yêu cầu phát triển thị trường vốn dài hạn tại Việt Nam là hết sức cấp thiết khi tăng trưởng toàn cầu năm 2026 đối mặt với nhiều rủi ro từ thắt chặt tài chính và biến động địa chính trị. Mặc dù tổng giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp toàn quốc năm 2025 đạt 644,3 nghìn tỷ đồng nhưng dư nợ thực tế mới chiếm khoảng 11,4% GDP, thấp hơn nhiều so với mức đỉnh của các giai đoạn trước và mục tiêu định hướng của Chính phủ.

Sự phục hồi của thị trường trong quý một năm 2026 nhìn chung chưa thực sự bền vững do áp lực đáo hạn ở nhóm bất động sản còn lớn và sự phân hóa sâu sắc giữa các tổ chức phát hành có đòn bẩy tài chính cao với những đơn vị có dòng tiền lành mạnh. Để khơi thông nguồn vốn này, hoạt động xếp hạng tín nhiệm độc lập cần phải được đưa trở thành công cụ trọng tâm trong quản trị thị trường, giúp nhà đầu tư nhận diện rủi ro, hỗ trợ cơ quan quản lý giám sát theo chuẩn mực khách quan và định giá chi phí vốn hợp lý dựa trên rủi ro tín dụng thực tế thay vì các mối quan hệ vay mượn thông thường.

Định hình các mô hình tài chính mới và định hướng khơi thông nguồn vốn chiến lược

Bên cạnh thị trường trái phiếu doanh nghiệp thông thường, việc phát triển phân khúc trái phiếu hạ tầng giao thông và trái phiếu xanh đang mở ra những không gian tăng trưởng mới cho cấu trúc tài chính quốc gia. Với mục tiêu đạt 5.000 km đường cao tốc vào năm 2030 cùng hàng loạt dự án đại công trình đường sắt tốc độ cao và cảng biển, nhu cầu vốn đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông vượt xa khả năng đáp ứng của ngân sách công.

Theo số liệu quốc tế, Việt Nam đặt mục tiêu huy động 5,5 tỷ USD vốn vay nước ngoài trong năm 2026 để tài trợ cho các dự án hạ tầng, trong bối cảnh tỷ lệ vốn nhà nước chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng quy mô đầu tư khổng lồ hiện tại. Trái phiếu hạ tầng giao thông vì vậy cần được thiết kế chuyên biệt dựa trên dòng tiền dự án như doanh thu thu phí, hợp đồng khai thác gắn với cơ chế chia sẻ rủi ro trong mô hình PPP để thu hút các nhà đầu tư dài hạn như quỹ hưu trí và bảo hiểm.

Đối với xu hướng tăng trưởng bền vững, thị trường trái phiếu xanh của Việt Nam còn rất nhiều dư địa khi quy mô đang lưu hành mới chỉ chiếm 0,15% thị trường nợ bền vững của khu vực Đông Á mới nổi. Sự xuất hiện của các chương trình ODA thế hệ mới tài trợ cho chuyển đổi xanh trị giá 50 tỷ yen từ tổ chức JICA vào tháng 3/2026 cho thấy sức hút lớn của dòng vốn chống biến đổi khí hậu, tuy nhiên việc hoàn thiện khung pháp lý về tiêu chuẩn xanh thống nhất và quy định xếp hạng tín nhiệm xanh là bắt buộc để ngăn ngừa các rủi ro liên quan đến hiện tượng tẩy xanh trên thị trường.

Để tổng hợp tất cả các nguồn lực tài chính dịch chuyển vào nền kinh tế một cách đồng bộ, việc hiện thực hóa mô hình Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) gắn liền với các công cụ fintech, quỹ đầu tư tư nhân, chứng khoán hóa tài sản và trái phiếu hạ tầng sẽ đóng vai trò giải quyết các nan đề về sáng tạo tài chính dài hạn. Hệ thống giải pháp tổng thể cho mục tiêu huy động nguồn vốn đầu tư giai đoạn 2026-2030 đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ trên nhiều phương diện cốt lõi.

Đầu tư công cần tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt với quy mô duy trì quanh mức 10% GDP nhưng phải tập trung cao độ vào hạ tầng chiến lược có sức lan tỏa, tránh đầu tư dàn trải. Chính sách tiền tệ từ Ngân hàng Nhà nước duy trì mức tăng trưởng tín dụng hợp lý khoảng 15% trong năm 2026 để vừa ổn định các cân đối vĩ mô, vừa đáp ứng khoảng 12% GDP cho nhu cầu đầu tư sản xuất thực chất.

Đồng thời, các cơ quan quản lý cần đẩy mạnh cải cách thể chế thị trường vốn nhằm nâng quy mô huy động qua kênh cổ phiếu và trái phiếu đại chúng lên ít nhất 4% GDP, kết hợp cải thiện môi trường kinh doanh để nâng tỷ phần vốn tự có của khối tư nhân lên 6% GDP, tăng cường thu hút các dòng vốn FDI chất lượng cao đạt mức tối thiểu 6% GDP và phát huy vai trò của các nền tảng tài chính số hiện đại để bổ sung nguồn lực thiết thực cho chiến lược tự cường của quốc gia.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Related Posts