Hôm nay (20/5), Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức Hội thảo Diễn đàn Tài chính 2026 với chủ đề khơi thông và thúc đẩy khả năng hấp thụ vốn cho doanh nghiệp.
Việt Nam bước vào năm 2026 với vị thế của một năm bản lề quan trọng, mở đầu cho chu kỳ tăng trưởng mới sau giai đoạn phục hồi kinh tế. Hướng tới mục tiêu chiến lược đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hai con số mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030 và hiện thực hóa khát vọng trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, nền kinh tế quốc gia đang đứng trước yêu cầu bứt tốc mạnh mẽ.
Việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên nền tảng kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn không còn là định hướng ngắn hạn, mà đã trở thành mệnh lệnh phát triển toàn diện. Trong hành trình này, khu vực kinh tế tư nhân đang khẳng định vai trò động lực cốt lõi, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên, để giải phóng toàn diện sức sản xuất, bài toán tháo gỡ điểm nghẽn về vốn và khơi thông các kênh dẫn vốn đa dạng cho nền kinh tế đang đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết.
Bức tranh nội lực khu vực tư nhân và áp lực thắt chặt dòng vốn hệ thống
Sự phát triển của khối doanh nghiệp tư nhân thời gian qua đã tạo ra những bệ đỡ vững chắc cho các chỉ số vĩ mô. Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), dẫn chứng số liệu từ báo cáo kinh tế tư nhân 2025 tại sự kiện PCI 2.0 cho thấy, tính đến hết năm 2025, cả nước có hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, tăng 6,6% so với năm 2024. Cùng với khoảng 6,1 triệu hộ kinh doanh, khu vực này đang tạo việc làm cho 26 triệu lao động, chiếm hơn một nửa tổng số việc làm toàn quốc. Bước sang đầu năm 2026, tinh thần khởi nghiệp tiếp tục bùng nổ khi số doanh nghiệp gia nhập thị trường đạt mức kỷ lục 297.500 đơn vị, với 85,7% doanh nghiệp chủ động duy trì hoặc mở rộng quy mô sản xuất. Mặc dù Chính phủ đã ban hành nhiều quyết sách đồng hành như Nghị quyết 68-NQ/TW, Nghị quyết 79-NQ/TW, Nghị định 20/2026/NĐ-CP hay Nghị định 141/2026/NĐ-CP nâng ngưỡng doanh thu miễn thuế cho hộ kinh doanh, khối tư nhân vẫn phải đối mặt với nhiều rào cản nội tại lớn khi bước vào giai đoạn bứt phá.
Các khảo sát thực tế phát lộ rằng khó khăn trong tìm kiếm khách hàng đang tăng mạnh, chi phí không chính thức còn phổ biến và năng lực đổi mới sáng tạo còn khiêm tốn. Đặc biệt, nhu cầu vốn trung và dài hạn để doanh nghiệp chuyển đổi công nghệ lõi và đáp ứng các tiêu chuẩn ESG quốc tế là vô cùng khổng lồ. Ước tính từ Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) chỉ ra, Việt Nam cần khoảng 15 đến 17 tỷ USD mỗi năm cho các dự án hạ tầng bền vững và thích ứng biến đổi khí hậu, nhưng ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng được khoảng 30% đến 35%. Khoảng trống tín dụng đối với nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) cũng lên tới hàng tỷ USD mỗi năm. Ở chiều ngược lại, dòng vốn kinh tế vẫn phụ thuộc nặng nề vào kênh tín dụng ngân hàng với các điều kiện thế chấp nghiêm ngặt. Trong khi đó, các kênh dẫn vốn thay thế như trái phiếu doanh nghiệp, thị trường chứng khoán chưa đủ chiều sâu, còn nguồn tài chính xanh quốc tế lại sở hữu rào cản kỹ thuật quá cao đối với năng lực tiếp cận của doanh nghiệp nội địa.
Biến động vĩ mô toàn cầu và định hướng điều hành tài chính chiến lược
Tính đến nửa đầu năm 2026, môi trường tài chính quốc tế tiếp tục diễn biến phức tạp và tiềm ẩn nhiều bất định lớn. Ông Nguyễn Phi Lân, Vụ trưởng Vụ Dự báo Thống kê, Ổn định Tiền tệ Tài chính thuộc Ngân hàng Nhà nước, phân tích rằng việc xung đột Trung Đông leo thang mạnh mẽ từ cuối tháng 2/2026 đã tạo ra cú sốc nguồn cung năng lượng, đẩy giá dầu Brent có thời điểm vượt mốc 100 USD/thùng và gia tăng đáng kể áp lực lạm phát chi phí đẩy trên toàn cầu. Các tổ chức tài chính lớn như IMF, OECD và WB đều đưa ra dự báo thận trọng về tăng trưởng toàn cầu năm 2026, chỉ dao động trong khoảng từ 2,6% đến 3,1%. Việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) duy trì lập trường thắt chặt, giữ lãi suất điều hành ở mức cao đã đẩy đồng USD phục hồi mạnh trong tháng 3/2026, gây áp lực trực tiếp lên tỷ giá và dự trữ ngoại hối của các nền kinh tế mới nổi có độ mở lớn như Việt Nam.
Dù chịu áp lực lớn từ môi trường quốc tế, kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026 vẫn ghi nhận nhiều điểm sáng ổn định. Tăng trưởng GDP quý một đạt 7,83% so với cùng kỳ, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 249,5 tỷ USD, tăng 23%, và dòng vốn FDI thực hiện đạt 5,41 tỷ USD. Nhằm giảm thiểu chi phí vốn cho nền kinh tế, Ngân hàng Nhà nước đã duy trì nguyên sách các mức lãi suất điều hành, đồng thời chỉ đạo các tổ chức tín dụng ổn định biên độ cho vay. Tính đến cuối tháng 4/2026, lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới đạt mức 8,38%/năm, giảm 0,44%/năm so với cuối năm 2025.
Tuy nhiên, các rủi ro đối với những tháng còn lại của năm 2026 là rất hiện hữu khi chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn của hệ thống ngân hàng có xu hướng mở rộng, nợ xấu tiềm ẩn nguy cơ gia tăng và tỷ lệ tín dụng trên GDP đang neo ở mức rất cao. Đại diện Ngân hàng Nhà nước khuyến nghị cộng đồng doanh nghiệp cần chủ động nâng cao năng lực quản trị tài chính, minh bạch hóa thông tin, đa dạng hóa nguồn vốn thông qua các kênh phát hành trái phiếu, cổ phiếu hoặc quỹ đầu tư, đồng thời tuyệt đối thận trọng với các hoạt động mang tính đầu cơ trục lợi ngắn hạn trên thị trường tài sản. Về định hướng tiếp theo, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa để kiểm soát lạm phát mục tiêu quanh mức 4,5%, áp dụng linh hoạt công cụ tỷ giá nhằm hấp thụ cú sốc bên ngoài, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số để tối ưu chi phí vận hành, bảo đảm đồng hành bền vững cùng chiến lược tự cường của doanh nghiệp Việt.




